Bà lão nghèo nhặt về nuôi một đứa trẻ bị b//ỏ rơi bên v///ệ đường. Hàng xóm ai cũng lắc đầu, bảo bà “rảnh hơi ôm thêm gá..n.h nặng vào thân”. Nhưng hai mươi năm sau, khi cậu bé ấy trưởng thành…mọi người mới nhận ra trong cả khu phố, không ai hạnh phúc và tự hào bằng bà.Buổi sáng chợ huyện, sương còn đọng ướt trên mái lá, bà Tư lom khom đẩy xe ve chai đi ngang qua khu chợ lớn. Đôi chân bà chai sạn vì nhiều năm đi bộ, đôi tay gầy nhăn nheo kéo lê bao tải nặng trĩu. Bà không còn ai thân thích, sống một mình trong căn chòi dột nát ven rạch, ngày ngày nhặt nhạnh từng món đồ bỏ đi để đổi gạo sống qua bữa.Hôm đó, ở góc chợ, bà nghe tiếng kh/óc oe oe khe khẽ. Một đứa bé s//ơ si//nh, đ//ỏ h//ỏn, được đặt trong chiếc thau nhôm cũ, bên cạnh là tờ giấy nhàu nát: “Xin ai có lòng thươ/ng cưu mang cháu.”Bà lặng người. Đôi mắt mờ đục chậm rãi dừng lại nơi sinh linh nhỏ bé ấy. Không ai đứng gần. Người ta đi qua, lắc đầu, buông vài câu ngán ngẩm:— Thời buổi này nuôi thân còn chưa xong, ai dám nhận thêm cái nghiệp nặng như núi…Nhưng bà Tư thì khác. Bà nhấc đứa bé lên bằng cả hai tay r/un rẩ/y. Nó nắm lấy ngón tay bà, khẽ co lại. Tim bà đ/au nh/ói mà ấm lên lạ lùng. “Con không có ai. Mà bà… cũng chẳng còn ai. Hay mình về với nhau, hén con.”………… Đứa bé được bà đặt tên là Thành. Những năm đầu, căn chòi lá của bà Tư vốn đã rách nát nay lại thêm tiếng khóc trẻ con. Để có sữa cho Thành, bà Tư dậy sớm hơn hai tiếng, thức khuya thêm ba tiếng. Có những đêm mưa dột, bà lấy tấm bạt duy nhất che cho cháu, còn mình ngồi co ro dưới góc khô duy nhất, tay run rẩy quạt muỗi cho Thành ngủ ngon. Hàng xóm bảo bà “khùng”, bảo bà “ôm rơm rặm bụng”. Nhưng bà chỉ cười hiền, ánh mắt lấp lánh khi thấy Thành lẫm chẫm biết đi, miệng bi bô gọi “Nội ơi”. Thành lớn lên trên chiếc xe ve chai của bà, học chữ từ những cuốn sách cũ nát bà nhặt được, lấy sự hiếu thảo làm kim chỉ nam để vươn lên. 20 năm sau: Ngày “vinh quy bái tổ” Một buổi sáng cuối tuần, cả con phố nghèo bỗng xôn xao bởi đoàn xe sang trọng dừng lại trước con rạch nhỏ. Bước ra từ xe là một chàng thanh niên cao lớn, mặc quân phục chỉnh tề với quân hàm sĩ quan trên vai. Đó chính là Thành. Anh không về một mình. Anh đưa theo đơn vị và những người đồng đội, mang theo cả bằng khen “Gương mặt trẻ tiêu biểu” và quyết định bổ nhiệm công tác tại thành phố để được gần chăm sóc bà. Thành bước vào căn chòi, không ngần ngại bộ quân phục phẳng phiu, anh quỳ xuống ôm lấy đôi chân gầy guộc, chai sạn của bà Tư mà khóc: “Nội ơi, con về rồi. Ngày xưa Nội nhặt con từ thau nhôm, hôm nay con về để rước Nội đi. Từ nay, Nội không phải kéo xe ve chai nữa, để con làm đôi chân cho Nội.” Cái kết của lòng nhân ái Cả khu phố đứng xem, những người năm xưa từng lắc đầu nay đều rơm rớm nước mắt. Họ nhận ra rằng, “gánh nặng” mà bà Tư ôm vào lòng năm ấy thực chất là một món quà của thượng đế. Bà Tư giờ đây đã già yếu, lưng còng hơn trước, nhưng gương mặt bà rạng rỡ một niềm tự hào mà không tiền bạc nào mua được. Thành sửa sang lại căn nhà cho bà, lập một quỹ khuyến học nhỏ mang tên bà Tư để giúp đỡ những đứa trẻ lang thang cơ nhỡ ở khu chợ năm xưa. Cái kết: Câu chuyện của bà Tư và Thành trở thành huyền thoại của khu phố nghèo. Nó chứng minh một điều giản đơn nhưng sâu sắc: Hạnh phúc không nằm ở chỗ chúng ta sở hữu bao nhiêu, mà ở chỗ chúng ta đã dám yêu thương bao nhiêu. Người ta không còn gọi bà là “bà già khùng nhặt ve chai”, mà gọi bà bằng cái tên đầy kính trọng: Người mẹ của những phép màu. Post navigation Bạn bè tiết lộ Văn Toàn từng khóc nấc khi Hòa Minzy công khai bạn trai quân nhân: Người tổn thương nhất có lẽ vẫn là anh Người cha Tỷ phú giả làm ông “bán trứng nghèo” đến lễ cưới thử lòng con dâu tương lai và cái kết …. –